Đọc truyện cùng Khương An

Tiểu lâu một đêm nghe mưa xuân

Chương 54: Chán ghét

« Chương trước
Chương tiếp »

Nhàn Nguyệt chỉ có một chút thay đổi rất nhỏ, nhưng Vân phu nhân lại là người đầu tiên nhận ra.

Từ sau Đồng Hoa yến trở về, trên người nàng bỗng dưng nhiều thêm một phần lười biếng chán nản. Vân phu nhân cũng nghe nói đến chuyện chiếc khăn tay trong bữa tiệc Đồng Hoa hôm ấy, ban đầu cho rằng nàng vì Trương Kính Trình mà sinh phiền chán. Nhưng nhìn kỹ lại, dường như cũng không hẳn là như thế.

Gần đây Nhàn Nguyệt giống như đã buông chuyện Hoa Tín Yến xuống. Mỗi ngày nàng chỉ chăm chú nghiên cứu trâm hoàn trang sức. Đại khái là phát hiện mình mang thứ gì, nữ hài tử trong kinh đều bắt chước theo, nàng không muốn để món tiền này rơi vào tay người ngoài. Dù sao nhà nàng vốn đã có cửa hàng trang sức, nên mỗi ngày đều ở phủ của dì Vân nghiên cứu. Đám nha hoàn trong viện Vân phu nhân đều thành trợ thủ đắc lực của nàng, mỗi người góp một ý tưởng.

Vân phu nhân đến kêu nàng đi dùng cơm, vừa bước vào Lưu Li các đã thấy khắp nơi bày đầy hoa cỏ đủ màu. Nhàn Nguyệt đang ngồi bên bàn vẽ, tay áo và đầu ngón tay đều nhuốm màu phấn hoa. Thấy vậy bà không khỏi bật cười.

“Như thế nào lại bỗng dưng chăm chỉ đến vậy?” Bà trêu Nhàn Nguyệt: “Chẳng lẽ tiểu Trương đại nhân rốt cuộc cũng thông suốt rồi?”

“Hắn à?” Nhàn Nguyệt đặt bút xuống, đầu bút còn dính sắc vàng của dây đằng, thản nhiên nói: “Trời sinh đã không có khiếu, sao mà khai được. Nếu chuyện gì cũng phải do người khác dạy, vậy cũng không phải chuyện tốt.”

“Lời này là có ý gì?” Vân phu nhân cố ý hỏi.

Nhàn Nguyệt thong thả rửa tay trong chậu nước Đào Nhiễm bưng tới. Vân phu nhân nhận khăn từ nha hoàn, tự tay lau khô cho nàng. Nhàn Nguyệt vốn thể chất yếu, bốn mùa tay lúc nào cũng lạnh. Nàng nhận chén trà sâm từ nha hoàn, nhấp một ngụm rồi mới chậm rãi nói: “Trong lòng mỗi người đều có một cây cân, không phải một sớm một chiều mà thành. Giống như Trương Kính Trình — hắn luôn cho rằng nữ tử xuất đầu lộ diện là sai, khiến người nghị luận cũng là sai. Dù có cố gắng thay đổi, cũng chỉ vì nhất thời đang thích con nên không so đo mà thôi. Đó là vì con mà làm, chứ không phải trong lòng thật sự nghĩ như vậy. Con cớ gì phải vô duyên vô cớ nợ hắn một phần tình nghĩa ấy? Nếu một ngày hắn không muốn trả giá nữa thì sao? Nếu một ngày hắn cảm thấy mình đã cho quá nhiều thì sao? Rốt cuộc vẫn không bằng gặp được người vốn sinh ra đã cùng con chung một quan niệm.”

Trương đại nhân bị nàng mắng đến chỉ biết vâng vâng dạ dạ. Vị Bảng Nhãn lang vốn nổi tiếng đoan chính cũ kỹ kia, nguyện ý tin lời nàng mà chịu thay đổi. Đổi lại là cô nương khác nhất định đã cảm động từ lâu. Nhưng Nhàn Nguyệt thì hoàn toàn ngược lại.

Bởi nàng hiểu rõ lòng người.

Vân phu nhân dĩ nhiên cũng hiểu điều ấy, chỉ là muốn để nàng tự mình nói ra mà thôi. Nghe xong liền thở dài: “Nhưng trong kinh này, nam tử được như tiểu Trương đại nhân đã là hiếm lắm rồi, người như con nói, biết tìm ở đâu đây?”

“Chẳng phải dượng đó sao?” Nhàn Nguyệt lập tức hỏi ngược lại.

Vân phu nhân hơi sững lại. Thật kỳ lạ, bất luận khi nào nhắc đến cố An Viễn hầu, trên mặt bà luôn thoáng hiện một tia thần sắc của nữ hài tử. Kỳ thực, người Nhàn Nguyệt muốn tìm cũng chỉ như vậy, một người mà mười năm, hai mươi năm sau, chỉ cần nhắc đến tên hắn, nàng vẫn có thể vô thức lộ ra vẻ tiểu nhi nữ.

“Hắn đương nhiên là…” Vân phu nhân khẽ nói, giọng mang theo chút bâng khuâng, nhưng rất nhanh lại mỉm cười. “Dù sao con cũng đừng nói Kính Trình đến mức khiến hắn chết tâm như thế. Tốt xấu gì cũng là Bảng Nhãn lang, học thứ gì mà chẳng được? Chậm rãi giáo hắn là được.”

“Đúng vậy, hắn học gì mà chẳng được. Chỉ có điều, hắn vẫn luôn không biết con muốn gì, căn bản không phải hắn ngu dốt, mà là không để tâm thôi. Trong kinh thành này bao nhiêu nam nhân, ở quan trường xu nịnh có thể làm ra trăm thứ hoa dạng. Chỉ cần cấp trên liếc mắt một cái, họ đã hiểu ra ba tầng ý tứ. Nhưng thử hỏi có vị phu nhân nào sống được thật sự tự tại, tùy ý không? Chẳng lẽ bọn họ không biết làm thế nào để khiến thê tử vui vẻ hơn sao? Không phải. Chỉ là họ không muốn mà thôi.”

Một phen lời ấy của Nhàn Nguyệt khiến Vân phu nhân nhất thời không biết đáp ra sao, chỉ có thể mang nàng đi dùng cơm.

Nhàn Nguyệt gần đây thường xuyên ở lại Vân phủ, đến cả Lâu nhị gia cũng đã nhận ra. Kỳ thực giữa Nhàn Nguyệt và Lâu nhị nãi nãi vốn không thân thiết như Khanh Vân hay Lăng Sương với mẫu thân mình. Đặc biệt từ khi Hoa Tín Yến bắt đầu, Lâu nhị nãi nãi lúc thì bận rộn khắp nơi nâng đỡ Khanh Vân, lúc lại phải vội vã quản thúc Lăng Sương. Nhàn Nguyệt vốn thông minh, lại biết tự tính toán cho mình, thêm vào đó có mấy lần hai mẫu tử bất đồng ý kiến, nên tình cảm vẫn luôn có vài phần xa cách.

Nhưng nếu nói đến căn nguyên, kỳ thực từ khi còn nhỏ, trong đám tỷ muội, Nhàn Nguyệt vốn là người Lâu nhị nãi nãi ít thân mật nhất. Nàng thông minh như vậy, dĩ nhiên sẽ không vì chuyện ấy mà tự chuốc khổ. Trái lại, nàng càng hướng ra ngoài tìm kiếm thế giới. Với dung mạo và sự thông tuệ của mình, thế gian này từ sớm đã mở rộng vòng tay mà ôm ấp nàng. Nàng như cánh bướm rong chơi giữa rừng hoa, lưu luyến bên ngoài, cũng là chuyện thường tình. Chỉ có điều, cùng Vân phu nhân thân thiết đến mức ấy, vẫn là hơi quá. Vân phu nhân sống cô quạnh nhiều năm, lại không quen sinh con dưỡng cái. Hạ Nam Trinh sớm đã trưởng thành, đối với bà cũng chỉ giữ lễ thỉnh an theo lệ thường, với các phu nhân trong kinh thành lại càng không thân thiết. Nay gặp được Nhàn Nguyệt, tính tình hợp ý, lại xinh đẹp lanh lợi, bà gần như xem nàng như chính nữ nhi của mình. Hễ có vật gì quý giá, cũng không tiếc mà đem ra cho nàng tùy ý chọn lựa. Mấy ngày gần đây trong kinh gió lớn, tuy Nhàn Nguyệt ra ngoài luôn có nha hoàn bà tử theo hầu, lại có xe ngựa của hầu phủ đưa đón, nhưng cũng khó tránh có lúc bị gió tạt. Lâu nhị nãi nãi dù sao cũng là mẫu thân ruột, trong lòng khó tránh khỏi có chút oán trách. Tối hôm ấy, khi đang ngồi bên huân lung xem danh sách của hồi môn cho Khanh Vân, bà không nhịn được than: “Ngày nào cũng đi sớm về muộn, so với Hoa Tín Yến e còn vất vả hơn vài phần, nhỡ một ngày nhiễm phong hàn, biết làm sao?”

Ai ngờ lời vừa nói xong chưa được bao lâu, Nhàn Nguyệt liền trở về phủ trong sắc trời sẫm tối. Lúc đi nàng khoác một chiếc áo choàng the mỏng màu đỏ, vậy mà lúc về lại đổi thành một chiếc áo choàng lông chim màu xanh nhạt. Khi ấy cả nhà đã dùng xong cơm chiều, đang quây quần bên huân lung nói chuyện phiếm, nghe tiếng mưa rơi lộp bộp ngoài hiên, ánh đèn trong phòng hơi tối. Nàng vừa bước vào, Hoàng nương tử vội vàng tiến lên nghênh đón. Mọi người chỉ thấy quanh người Nhàn Nguyệt, trong bóng tối dường như có một vầng ánh sáng nhè nhẹ lưu chuyển, khiến nàng càng thêm nổi bật.

Đào Nhiễm cởi áo choàng cho nàng, Hoàng nương tử đưa tay nhận lấy, vừa chạm vào đã cảm thấy mặt vải lạnh và trơn, nhưng khi sờ kỹ lại phảng phất có cảm giác như lớp sáp của lông chim. Bà theo Lâu nhị nãi nãi xuôi nam ngược bắc đã nhiều năm, từng thấy vô số loại da lông vải vóc, vậy mà nhất thời cũng không nhận ra đây rốt cuộc là chất liệu gì.

“Nhị nãi nãi, người xem thử cái này.” Hoàng nương tử lập tức cầm áo choàng đến bên huân lung cho Lâu nhị nãi nãi xem, cũng có ý hòa dịu bầu không khí giữa hai mẹ con, kinh ngạc nói: “Đây là loại nguyên liệu gì vậy, nô tỳ nhìn mãi cũng không nhận ra.”

Lâu nhị nãi nãi có chút lười biếng, chỉ liếc qua một, cái cũng không nhận ra, nha hoàn liền mang đèn lại gần. Nhàn Nguyệt lúc này đang đưa tay tiếp nhận lò sưởi, thấy vậy cười nói: “Đừng đưa lại gần lửa quá, thứ này sợ lửa nhất, chỉ cần bén một chút liền lại lưu dấu vết, cho nên chỉ thích hợp mặc lúc trời mưa thôi.”

Hoàng nương tử đoán chắc là Vân phu nhân tặng, vội vàng sai nha hoàn mang đèn đi, bản thân cũng dời huân lung ra xa một chút. Bà ghé sát nhìn kỹ, lại đưa tay sờ thử, hóa ra bề mặt áo choàng được ghép từ vô số phiến lông chim nhỏ li ti. Sờ vào thấy mềm mượt, giống lông chim nước, có phần giống chim bói cá, nhưng màu sắc lại trầm hơn. Lần xuống phía trong, dường như là lớp vĩ lụa.

Trong lòng bà chợt hiểu ra. “Đây chẳng phải là vũ sai đoạn sao?” Hoàng nương tử cười nói. “Thật sự quý hiếm, nghe nói từ hơn mười năm trước đã thất truyền rồi, không ngờ hôm nay còn thấy được.”

“Có gì mà thất truyền. Chỉ là công không bõ phí, không đáng tốn nhiều nhân lực làm thứ như thế thôi. Những thứ thật sự tốt như dệt lụa hoa, dù tốn công đến đâu cũng chẳng thể thất truyền.” Nhàn Nguyệt đang ngồi cạnh huân lung sưởi ấm nói: “Thứ này chẳng qua là nhổ bỏ ống lông của chim nước, rồi từng mảnh ghép dệt vào sa tanh. Ngoài việc chắn gió tránh mưa ra thì chẳng có tác dụng gì khác. Nhà bình thường không dùng nổi, còn nhà thật sự phú quý lại chẳng mấy khi phải dầm mưa dãi gió. Đi săn cũng không dùng được, cành cây quệt một cái là hỏng, thành ra nửa vời như vậy, không thất truyền mới lạ. Quý thì quý, nhưng cái đáng giá lại là lớp áo trong, dì sờ thử xem.”

Đầu óc kinh thương của nàng là di truyền từ Lâu nhị nãi nãi, trong lòng tự có một bộ tiêu chuẩn, sẽ không vì những lời như “trân quý”, “hiếm thấy”, “chỉ trong cung mới có” linh tinh mà dễ dàng mua chuộc, càng không đến nỗi giống Tuân Văn Hỉ các nàng, suốt ngày tranh hào đấu phú, thật chẳng đáng.

Nhưng khi Hoàng nương tử vừa sờ đến lớp áo trong, sắc mặt mới thực sự thay đổi.

Trong thiên hạ có vô số kỹ nghệ đã thất truyền. Lúc nãy bà nhắc đến vũ sai đoạn cũng chỉ là cố ý nói cho vui mà thôi. Nhưng thứ này thì bà tuyệt đối không thể nhận sai, bởi trong tất cả các loại da, quý giá nhất chính là nó.

“Nhị nãi nãi.” Hoàng nương tử khẽ gọi, rồi gập một góc vạt áo choàng lên. Đó là động tác quen thuộc của người quen làm việc ở cửa hàng da lông, trực tiếp đưa phần lót áo cho Lâu nhị nãi nãi xem.

Lúc này Lâu nhị nãi nãi mới thật sự đưa tay sờ. Ban đầu bà còn có phần hững hờ, nhưng vừa nhìn thấy lớp da lông màu trà sẫm bên trong, mềm mịn như nhung, bề mặt lấp lánh một tầng ngân châm, lập tức ngồi thẳng dậy. Bà cẩn thận sờ dọc theo đường may của lớp lót, rồi đưa ngón tay luồn sâu vào lớp lông, khẽ ngửi, một mùi phèn nhạt thoảng qua.

“Vẩy cá đi đao, phèn tài châm… Đây chẳng lẽ là da hải long?” Dù trong lòng đang bực vì Vân phu nhân và Nhàn Nguyệt quá thân thiết, bà vẫn không khỏi kinh ngạc mở to mắt. “Da hải long chỉ có quan gia mới được dùng. Ngay cả tông thất mà dùng cũng đã là vượt quy chế. Sao An Viễn hầu phủ lại có thứ này? Còn để con mặc ra ngoài nữa?”

Nhàn Nguyệt vẫn ngồi sưởi bên huân lung, giọng nói thản nhiên: “Vương hầu trong kinh thành, chỉ có hai nhà Tần, Hạ có được. Đó là năm xưa khi hai vị lão thần Văn Viễn hầu và An Viễn hầu chinh phạt phương Nam, được quan gia ban thưởng. Những thế gia hơn trăm năm mới biết được chuyện ấy. Bây giờ đường biển không thông, da hải long sớm đã tuyệt tích, trong cung cũng chẳng còn mấy món. Nhà họ Hạ hiện cũng chỉ còn lại chiếc áo choàng này, là lúc trước khi cố An Viễn hầu còn sống, vì dì Vân thích ngắm hoa, mà mùa xuân mưa nhiều, nên mới sai người làm cho bà. Thật ra có dùng vũ sai đoạn hay không cũng không quan trọng vì da hải long vốn đã không thấm nước rồi. Dì Vân thấy mấy ngày nay con thường ngược gió dầm mưa, nên lấy ra cho con mặc, đợi qua xuân rồi sẽ trả lại.”

Lời nàng nói ra thật nhẹ nhàng, dường như chỉ là chút chuyện nhỏ. Nhưng Lâu nhị nãi nãi và Hoàng nương tử lại nhất thời không nói nên lời.

Đúng như Nhàn Nguyệt đã nói, có những tay nghề thất truyền thì cũng mặc nó thất truyền. Vũ sai đoạn hay không vũ sai đoạn, nói cho cùng cũng chỉ là khác nhau ở chỗ đã từng thấy hay chưa từng thấy. Nhưng cũng có những thứ, cho dù cả đời không gặp được một món, người mở cửa hàng buôn bán vẫn phải biết đến. Bằng không truyền ra ngoài, thiên hạ sẽ nói cửa hàng ấy thiếu kiến thức, chưa từng thấy qua thứ tốt thật sự. Giống như trên Vân Thịnh phố trong kinh thành có một tiệm đồ sứ. Trong tiệm năm nào cũng cung phụng một món bí sắc sứ. Không phải để bán, mà chỉ để nói cho thiên hạ biết: cửa tiệm này tự tin đến mức nào. “Cửu phong thu lộ việt diêu khai, đoạt đắc thiên phong thúy sắc lai.” Đó là câu thơ mà người làm đồ sứ ai ai cũng thuộc. Dù bí sắc sứ đã thất truyền hơn trăm năm, nhưng người trong nghề, ai lại không biết đến nó?

Da hải long cũng giống như vậy, ‘vẩy cá đi đao, phèn tài châm’, đó là tay nghề xử lý da hải long, cũng là phương pháp phân biệt thật giả, Lâu nhị nãi nãi từ nhỏ đã học thuộc lòng. Từ cửa tiệm ở Giang Nam chạy lên kinh thành, chủ tớ hai người hôm nay mới lần đầu tận mắt thấy da hải long, làm sao có thể không kinh ngạc.

Lâu nhị nãi nãi khẽ vuốt chiếc áo choàng da hải long trong tay, trầm ngâm nói: “Vân phu nhân quả thực cũng là một mảnh chân thành, chúng ta cũng nên chọn một ngày mời bà ấy đến viện nhà mình chơi mới phải.”

“Không cần đâu.” Nhàn Nguyệt nhàn nhạt đáp. “Dạo này ngoài chính yến ra, bà ấy cũng chẳng ra khỏi cửa. Chờ khi tỷ tỷ làm hôn sự rồi hãy nói. Bà ấy còn bảo sẽ chuẩn bị một phần đại lễ cho tỷ tỷ nữa.”

Nói xong, nàng dường như cũng mệt mỏi, sưởi ấm thêm một lúc rồi trở về phòng nghỉ, thần sắc càng thêm lãnh đạm. Lăng Sương thấy gần đây tâm trạng nàng không tốt, cũng sớm quay về phòng, khi bước vào, nàng thấy Nhàn Nguyệt đã rửa mặt chải đầu xong, tháo hết trang dung trâm hoàn, để mặt mộc nằm trên giường, tựa hồ đang suy nghĩ điều gì. Lăng Sương cười nói: “Tỷ thật muốn chọc bà ấy tức chết sao?”

Nếu là trước kia, Nhàn Nguyệt hẳn không cần nghe kỹ cũng biết “bà ấy” ở đây là Lâu nhị nãi nãi. Nhưng lần này nàng lại sững sờ một chút, hỏi: “Cái gì?”

Lăng Sương lúc này mới chợt nhận ra, hình như có điều gì đó không ổn.

Mọi người thường nói nàng không hiểu nhân tình thế thái, kỳ thực nàng hiểu rất rõ, chỉ là không chịu thuận theo mà thôi. Chẳng hạn như nàng biết rõ, trong một gia đình, đứa trẻ ít được cha mẹ yêu thích nhất thường sẽ âm thầm nghẹn một hơi. Dù ngoài mặt không nhất định cố ý lấy lòng, nhưng trong lòng luôn có một chấp niệm, một sự cố gắng không chịu thua.

Nhưng cái chấp niệm ấy của Nhàn Nguyệt dường như đã tiêu tán.

Không chỉ vậy, ngay cả sự hứng thú khi đùa bỡn đám vương tôn công tử trong lòng bàn tay kia, dường như cũng không còn nữa. Mấy ngày nay nàng không biết đang bận rộn chuyện gì, cũng có thể là trong nhà đang chuẩn bị hôn sự của Khanh Vân, nhìn thấy phiền lòng nên cố ý trốn ra ngoài.

“Gần đây tỷ có điều gì mệt mỏi vậy? Có phải trong người lại không khỏe rồi sao?” Lăng Sương ngồi bên mép giường hỏi.

Nhàn Nguyệt lắc đầu.

“Vậy là vì bên Trương Kính Trình thật sự không có tiền đồ?” Lăng Sương lại hỏi.

“Cũng không phải.” Nhàn Nguyệt ngồi trên giường, ôm đầu gối. Thân hình nàng mảnh mai mềm mại, cằm hơi cúi xuống, mái tóc đen dày như mây phủ kín lưng. Trông nàng quả thật như đang mệt mỏi rã rời. “Chỉ là cảm thấy… không có gì thú vị.”

Cái “không thú vị” ấy là gì, nàng không nói với Lăng Sương. Nhưng hôm sau, nàng lại nói với Vân phu nhân.

Qua hai ngày nữa chính là Mạch Hoa Yến. Nhàn Nguyệt lần này lại không để tâm như những lần trước. Từ Mạch Hoa Yến trở đi, Hoa Tín Yến dần chuyển từ rực rỡ sang dịu dàng. Khi ấy không còn thích hợp mặc những màu sắc nồng diễm chói mắt nữa, các màu thúy lục, thiên thanh, lam nhạt, ngó sen, các sắc vàng đậm nhạt mới là hợp nhất. Gió xuân đã ấm, chính là lúc đạp thanh thưởng ngoạn, núi non xanh biếc, bầu trời trong trẻo. Đó là mùa của Khanh Vân.

Nếu đổi lại là trước kia, Nhàn Nguyệt hẳn đã nghĩ ra đủ loại y phục mới lạ cho mình. Nàng vốn mặc thiển hồng, yên chi rất đẹp, nhưng nếu dùng thúy sắc điểm kim, hoặc đem hạnh đỏ phối với thủy lam, cũng đều vô cùng nổi bật.

Nhưng lần này nàng chỉ ngày ngày vùi mình giữa hoa lá chim muông, làm trâm cài. Dì Vân thấy vậy, không khỏi hỏi nàng vài câu, nàng chỉ cười qua loa cho có lệ.

Đến chiều hôm ấy, mặt trời lặn như dung kim, ánh chiều rực đỏ, mọi người ngồi ngoài Lưu Ly Các hóng gió đêm. Một cây liễu rủ mọc đầy mầm non xanh biếc, lay động trong gió. Từng cánh Đồng Hoa đã rơi đầy đất. Dì Vân phe phẩy quạt, đang nói chuyện với Hồng Yến. Nhàn Nguyệt cũng cầm quạt che nửa mặt, chậm rãi bước tới.

Không biết ngồi bao lâu, nàng bỗng nói: “Mạch Hoa Yến… con không muốn đi lắm.”

Tuy gần đây nàng có phần lười nhác, nhưng vô cớ bỏ lỡ một yến trong Hoa Tín Yến, trước giờ vẫn chưa từng có. Nếu là những cô nương khác làm vậy, chỉ có một ý nghĩa — rút lui khỏi Hoa Tín Yến năm nay. Bởi sau khi xuân qua mười tám yến đó, yến nào cũng quý, bỏ lỡ một yến đã là đáng tiếc. Trong kinh từng có cô nương vì bệnh mà bỏ lỡ một hai yến, kết quả người mình để ý lại bị người khác chọn mất. Từ đó bỏ lỡ cả đời. Chung thân đại sự của nữ tử, sao có thể tùy tiện lãng phí như vậy.

Nhưng Vân phu nhân hiểu tâm tư nàng nặng nề, cũng không ép buộc, chỉ hỏi: “Vì sao?”

“Các vương tôn công tử trong kinh cũng đã gặp gần hết một lượt, cũng chỉ vậy thôi. Bỏ lỡ một hai yến cũng chẳng sao, huống hồ gần đây con cũng mệt mỏi.” Nhàn Nguyệt vẫn nhàn nhạt đáp.

“Ta thấy không phải vì lý do này.” Vân phu nhân vẫn mỉm cười nhìn nàng.

Nhưng bà dù hiểu, cũng không nói ra, chỉ an tĩnh nhìn hoàng hôn đang chầm chậm buông xuống. Một lúc sau, bà cảm thấy vai mình nặng xuống, là Nhàn Nguyệt đã tựa lại gần.

Ở Vân phủ, nàng không ăn vận cầu kỳ, chỉ búi tóc lười biếng, vài sợi tóc rơi bên má. Đôi mắt nàng hơi mơ hồ. Cảnh hoàng hôn luôn khiến người ta cảm thấy thời gian trôi quá nhanh, mọi thứ đều không giữ lại được.

Không biết qua bao lâu, Vân phu nhân mới nghe nàng khẽ nói: “Bà ấy đã đem cửa hàng kia cho Khanh Vân.”

Lâu gia ở kinh thành có năm cửa hàng, hai cửa hàng lương dầu tạp hóa, một cửa hàng tơ lụa vải vóc, một cửa hàng son phấn, một cửa hàng trang sức trâm hoàn, kiêm bán đá quý. Nhàn Nguyệt có một cửa hàng tơ lụa, Khanh Vân thì quản lương dầu, Lăng Sương vốn không thích mấy việc này, nên cửa hàng son phấn cũng do Nhàn Nguyệt trông nom giúp. Những thứ ấy đều chỉ là buôn bán nhỏ. Thứ thật sự quý giá vẫn là chỗ đá quý mà Lâu nhị nãi nãi mang lên kinh. Vì vậy cửa hàng trang sức từ trước đến nay vẫn do bà tự tay quản lý.

Nhưng Nhàn Nguyệt thích làm trang sức, chuyện ấy trong nhà ai cũng biết. Trước kia cửa hàng ở tiền viện vẫn buộc chung với việc làm vàng bạc đá quý, phần lớn do Lâu nhị nãi nãi quản. Mỗi khi có kiểu mới, bà đều gọi Nhàn Nguyệt đến xem, hai người cùng nhau thương lượng. Gần đây, Lâu nhị nãi nãi đã tách riêng đá quý ra tự quản. Cửa hàng chỉ còn lại mấy món trang sức đúng mốt. Nếu khách muốn đặt đá quý quý hiếm, hay làm mũ phượng, đều phải sang nói chuyện trực tiếp với bà. Ý tứ ấy, ai nhìn cũng hiểu — cửa hàng này, sớm muộn cũng sẽ giao cho một người trong các nàng.

Khi chuyện hôn sự của Khanh Vân được định xuống, Nhàn Nguyệt đã mơ hồ có dự cảm, Lâu gia cửa hàng tuy nhiều, nhưng ở kinh thành, kiếm ra tiền nhất vẫn là tiệm này. Khanh Vân gả vào Triệu gia, của hồi môn thêm mấy cửa hàng để chống lưng, cũng là chuyện thường tình.

Chỉ là… từ đầu đến cuối, Lâu nhị nãi nãi chưa từng hỏi nàng một câu, cũng không hề báo trước, cứ thế mà quyết định.

Vân phu nhân tâm tư tinh tế, thấy mấy ngày nay nàng có phần thất thần, nghe nàng nói vậy liền nhẹ giọng khuyên nhủ: “Có lúc con muốn thứ gì, cũng nên tự mình nói ra.”

“Con biết.” Nhàn Nguyệt đáp khẽ.

Nàng sao lại không biết nói? Tiểu Trương đại nhân tiền đồ vô lượng kia, nàng dạy dỗ hắn chẳng khác nào thuần một con ngựa non, lúc mềm lúc cứng, vừa dỗ vừa ép, cuối cùng khiến hắn ngoan ngoãn nghe lời. Nàng đối với người trong thiên hạ này, ai cũng dám mở miệng đòi hỏi, chỉ trừ… mẫu thân mình. Có lẽ vì biết bà sẽ không cho, nên nàng thà không hỏi. Ít nhất còn giữ lại một đường lui, khỏi phải đối diện với chân tướng trần trụi.

Người thông minh như Lâu nhị nãi nãi, chẳng lẽ không nhìn ra nàng muốn cửa hàng đó? Bao năm qua, nàng nghĩ ra biết bao kiểu trâm cài xinh xắn, bao nhiêu ý tưởng tinh xảo. Khi giao tiệm vải cho nàng, bà còn cười nói: “Vừa khéo Nhàn Nguyệt thích mấy thứ này.” Vậy mà đến chuyện trang sức, bỗng dưng lại như không hiểu?

Nhân tâm càng nghĩ càng nhạt. Mà nàng lại là người hay nghĩ, nghĩ đến cuối cùng chỉ thấy tẻ nhạt vô vị. Đến cả Hoa Tín yến cũng bỗng dưng khiến nàng chán ghét, dù có dạy dỗ Trương Kính Trình ngoan ngoãn thì sao? Người mà mẫu thân mình yêu thương nhất cũng không phải mình, hà tất còn trông mong người ngoài sẽ nhất sinh nhất thế? Nhân tâm như nước. Có khi… theo Lăng Sương đi làm ni cô, cũng chưa hẳn là chuyện không tốt.

Chỉ có Vân phu nhân là khác. Rõ ràng là trưởng bối, vậy mà vẫn có thể ngồi nghe nàng nói những lời này. Nếu là người khác, e rằng đã sớm lấy một câu “thiên hạ nào có cha mẹ sai” mà chặn lại. Trong thiên hạ, ai cũng nói về hiếu đạo, cha mẹ cho thứ gì thì nhận thứ ấy, làm sao còn có thể kén cá chọn canh?

Vân phu nhân khác người cũng ở chỗ đó. Thấy Nhàn Nguyệt có phần mất mát, bà không vội nói gì, trầm mặc cùng nàng nhìn ra sân, hoàng hôn đang chậm rãi rơi xuống mái hiên. Bà im lặng hồi lâu, rồi mới khẽ nói: “Thật ra khi ta còn ở nhà làm nữ nhi… cũng có rất nhiều lúc không vui.”

Nhàn Nguyệt đương nhiên biết điều này. Mẫu thân của Vân phu nhân là vợ kế, thân phận thấp hơn nguyên phối một bậc. Trong Vân gia lại có nhiều con cái đã lớn, những năm tháng Vân phu nhân sống ở nhà mẹ đẻ, cũng không phải lúc nào cũng êm đềm. Huống hồ mẫu thân bà nổi tiếng hiền lương, người ta thường nói bà đối đãi con cái của nguyên phối còn tốt hơn cả con ruột mình. Vân phu nhân vốn có một muội muội ruột, năm đó trong kinh thành có dịch ho lao ở tiểu hài tử, mấy đứa trẻ nhà Vân gia đều mắc bệnh. Mẫu thân bà ngày đêm chăm sóc đứa con út của nguyên phối, còn muội muội ruột của Vân phu nhân… lại vì vậy mà chết non. So với Nhàn Nguyệt, đó là một nỗi đau khác hẳn — một nỗi đau không thể nói ra. Xét theo đại nghĩa, mẫu thân bà hiển nhiên đáng được người đời tán thưởng. Cho nên nếu Vân phu nhân oán trách, lại thành ra danh không chính, ngôn không thuận. Nhưng khi ấy bà chỉ là một tiểu hài tử, sinh ra trong nhà cao cửa rộng, mà ngay cả mẫu thân mình cũng không thể dựa vào. Người mẹ ấy lại coi trọng con của người khác hơn cả con ruột mình. Vậy bà có thể dựa vào ai?

Nhàn Nguyệt tưởng bà sắp đem những chuyện cay đắng ấy ra để an ủi mình. Không ngờ Vân phu nhân bỗng đổi giọng, khẽ cười: “Lời này nói ra, Lăng Sương nhất định sẽ mắng ta. Nhưng con gái ấy mà, nói khổ cũng khổ, nói tốt cũng tốt. Ít nhất vẫn còn một lần đánh cược. Nhà mẹ đẻ có tệ đến đâu… cũng chưa phải hết đường.”

Ý bà đang nói, nữ hài tử vẫn còn có thể gả chồng.

Nhàn Nguyệt nhớ tới Lăng Sương, bất đắc dĩ bật cười: “Nàng ấy nhất định sẽ nói: ‘Liễu Tử Thiền cũng nghĩ như vậy, nên mới liều mạng muốn bỏ trốn đấy.’”

Vân phu nhân cũng bật cười. “Ta đâu có nói phải bỏ trốn. Chính vì đây là cơ hội quan trọng thứ hai của đời người, càng phải thận trọng. Không phải đem cả đời ký thác vào một người nam nhân, mà là dựng nên một gia đình của chính mình. Trong ngôi nhà ấy, con mới là nữ chủ nhân. Đến khi đó, ngay cả mẫu thân con cũng chỉ là khách đến chơi. Đã vậy, hà tất còn chấp nhất xem đứa con bà yêu nhất có phải là con hay không?”

Bà thấy Nhàn Nguyệt trầm ngâm như có vẻ đã nghe vào, lúc này mới thẳng thắn khuyên nhủ: “Con bây giờ thấy mọi thứ tẻ nhạt vô vị, thậm chí nghi ngờ cả Hoa Tín yến có ý nghĩa gì… là vì con quá muốn lập tức nhìn thấy kết quả. Nhưng chuyện đời vốn kỳ diệu, giống như khi con học làm trâm cài, là vì cửa hàng của mình, nay cửa hàng không còn, con liền thấy làm trâm cũng chẳng còn thú vị nữa. Nhưng trong khoảng thời gian ấy, con đã học được bao nhiêu thứ, dù sau này con đi đến đâu, con vẫn là Lâu Nhàn Nguyệt biết làm trâm cài. Chẳng phải đó cũng là ý nghĩa sao?”

Bà nhìn ra sân, giọng chậm rãi hơn. “Thế đạo vốn gian nan, với nữ tử lại càng khó, bởi những thứ con có thể tự mình nắm giữ… thật ra quá ít. Giống như Hoa Tín yến, bề ngoài xem thì náo nhiệt vô cùng, nhưng nhìn kỹ lại, nam tử thích hợp thì hiếm như lông phượng sừng lân, mỗi người đều có chỗ không như ý. Nhưng cũng không thể vì vậy mà nản lòng, đời người vốn như thế — càng khó, càng phải bước tiếp. Con xem nam nhân trên quan trường, lên lên xuống xuống cũng là chuyện thường. Đến ta còn chưa từng ngày nào than ngắn thở dài, con còn trẻ như vậy, sao lại dễ dàng nản chí đến thế?”

Nhàn Nguyệt kỳ thực cực kỳ thông minh, cũng có tâm tư. Có lẽ chính vì vậy, nàng lại không có được thứ nhuệ khí thẳng tiến không lùi như Lăng Sương, thậm chí có đôi khi nàng còn sinh ra cảm giác chán ghét cả thế gian này.

“Chỉ là… con không nhìn thấy phía trước còn có gì đáng để đi tiếp.”

“Vì sao nhất định phải biết phía trước có gì chờ mình?” Vân phu nhân hỏi lại. “Nếu mọi thứ đều nằm trong dự liệu, chẳng phải quá tẻ nhạt sao? Điều con có thể nghĩ tới, dù tốt đến đâu cũng hữu hạn. Biết đâu phía trước lại cất giấu điều tốt đẹp mà con chưa từng tưởng tượng được? Khi ta mười lăm, mười sáu tuổi, cũng từng đau khổ đến cùng cực. Phụ thân muốn đem ta gả đi liên hôn, mẫu thân ta cũng thuận theo ông ấy, bà ngày ngày rơi lệ khuyên ta hy sinh. Năm ấy đúng vào dịp Hoa Tín yến, ta nghĩ tới cái chết không biết bao nhiêu lần. Có lần đi dự Hải Đường yến, giữa chừng thật sự ngột ngạt không chịu nổi, ta lén chạy ra khe núi, đứng bên bờ nước, cứ nghĩ… có nên nhảy xuống hay không, đó có lẽ là lúc ta tuyệt vọng nhất. Mà cũng chính ngày hôm ấy… ta gặp được phu quân mình.” Bà quay sang nhìn Nhàn Nguyệt. “Cho nên có những chuyện trong đời chưa chắc cần có đáp án ngay. Đạo gia thường nói họa phúc tương y — rơi xuống đáy vực rồi mới có thể leo lên. Con cảm thấy đời mình không có ý nghĩa, có lẽ chỉ vì… ý nghĩa ấy còn chưa xuất hiện mà thôi.”

Nhàn Nguyệt nghe xong, lặng im hồi lâu. Nàng nâng mắt nhìn mặt trời lặn nơi chân trời. Không biết nghĩ đến điều gì, bỗng nhiên bật cười tự giễu: “Nếu con là Lăng Sương… thì tốt biết mấy.”

Vân phu nhân hiểu nàng đang nói gì.

Nếu nàng là Lăng Sương — không thích những điều này, không cần thắng, chỉ muốn sống ngang tàng tự do. Hoa Tín yến với nàng cũng chỉ như bùn đất, bỏ mặc cũng được.

Nhưng nàng lại là Lâu Nhàn Nguyệt.

Nàng yêu gấm vóc lụa là, yêu châu báu trang sức, yêu những thứ phồn hoa rực rỡ như hoa đoàn gấm tụ. Nàng mê xuân hoa thu nguyệt, thích đùa giỡn lòng người, khiến kẻ khác vì nàng mà thần hồn điên đảo. Nàng giống như con hồ ly nhỏ xảo quyệt mà kiêu kỳ nhất, trời sinh đã không thể làm một ni cô thanh tâm quả dục, áo vải rau dưa. Nàng luyến tiếc cõi hồng trần ba trượng này, tâm khí nàng cao, ánh mắt lại quá sắc sảo. Chính vì vậy, khi mọi thứ không như ý… nàng mới càng thấy buồn bực mà không vui.

“Cần gì phải là Lăng Sương đâu?” Vân phu nhân cười nói. “Đời người trăm năm, cũng chỉ là một chuyến vội vàng. Trên đời này người ta làm ra bao nhiêu xiêm y lộng lẫy, bao nhiêu bảo thạch quý hiếm, nghĩ ra bao nhiêu trò chơi mới lạ của cõi hồng trần. Nếu không chịu chơi cho đã… chẳng phải quá đáng tiếc sao? Con nên coi Hoa Tín yến như một trò chơi, cứ tận tình mà nhập cuộc, thắng cũng được, thua cũng được, miễn là không hối hận. Ta thấy con đâu phải cảm thấy không thú vị, chẳng qua những thứ trước mắt con đã chơi chán rồi. Con biết thế nào mới thú vị… chỉ là không dám thử mà thôi.”

Một câu ấy vạch trần khúc mắc trong lòng Nhàn Nguyệt. Nàng bất đắc dĩ bật cười, lấy quạt che nửa khuôn mặt.

“Ai nói con không dám?”

Vân phu nhân cũng không vạch trần, chỉ chậm rãi hỏi: “Con có biết ‘giặt hoa’ là ý gì không?”

Nhàn Nguyệt lập tức hứng thú: “Là ý gì?”

“Lần đầu ta gặp Minh Húc… chính là ở bên bờ nước. Khi ấy ta cảm thấy sống chẳng còn ý nghĩa gì. Hắn lại hỏi ta đã từng xuống nước chưa. Ta nói chưa. Hắn liền bảo: ‘Ngay cả nước còn chưa từng xuống, sao lại nói cuộc sống không còn gì thú vị?’”

Vị cố An Viễn hầu — trong lời bà, gọi là Minh Húc. Ánh hoàng hôn chạm lên gương mặt Vân phu nhân, bà nheo mắt nhìn xa xăm, như thể phảng phất trước mắt thật sự có một Hạ Minh Húc năm nào, xảo quyệt như vậy, rõ ràng gặp một thiếu nữ đang muốn tìm cái chết, vậy mà vẫn hỏi một câu kỳ quặc, hỏi nàng đã từng xuống nước chưa.

“Sau đó thì sao?” Nhàn Nguyệt hỏi.

“Sau đó… ta thật sự cởi giày tất, nắm tay hắn, lội một vòng quanh mép hồ.” Vân phu nhân đáp.

Nhàn Nguyệt trăm triệu lần đều không ngờ câu chuyện lại rẽ sang hướng ấy, ngạc nhiên hỏi: “Vì sao dì lại muốn xuống nước?”

“Vì ta chưa từng xuống nước.” Vân phu nhân thản nhiên nói. “Con thử xuống nước rồi sẽ biết.”

Nhàn Nguyệt khẽ nhíu mày, nàng trước giờ vốn thông minh, vậy mà câu chuyện này lại khiến nàng không hiểu nổi, dường như trong lời đối đáp năm xưa giữa Vân phu nhân và trượng phu bà có điều gì đó sâu xa hơn, nhưng nàng vẫn chưa nắm được, suy nghĩ trong chốc lát, nàng nghiêng đầu hỏi: “Xuống nước… là cảm giác thế nào?”

Vân phu nhân bật cười.

“Không phải ta không muốn nói cho con, mà là nói ra con cũng không thể thật sự hiểu. Trên đời có những việc, nếu chính mình không thử một lần, cả đời cũng sẽ không biết, người khác có nói thế nào con cũng không thể hình dung trọn vẹn được. Giống như năm ta mười lăm tuổi hiểu ra một điều: chỉ cần còn sống, cứ bước tiếp về phía trước, bởi vì trên đời này vẫn còn ngàn ngàn vạn vạn điều ta chưa từng nếm trải. Cảnh xuân năm nào cũng trở lại, chờ đến khi con năm mươi tuổi quay đầu nhìn lại, vẫn sẽ nhớ rất rõ lần đầu tiên bước chân xuống nước năm mười lăm tuổi là loại cảm giác gì.”

Nói xong câu đầy ẩn ý ấy, bà cũng không nói thêm nữa. Ngồi thêm một lát, rồi mỉm cười đứng dậy rời đi.

Sau khi bà đi, Nhàn Nguyệt vẫn ngồi lại rất lâu, chiếc quạt của Vân phu nhân không mang theo, vẫn đang đặt trên ghế.

Cố tình trên quạt vẽ một nhành ngô đồng.

Trời dần tối, hôm nay trời nắng, gió đêm cũng ấm áp, gió thổi qua khiến hoa hải đường rơi đầy mặt đất. Trong viện Vân phu nhân có một dòng suối nhỏ dẫn nước vào, hai bờ mọc đầy cỏ xuân. Nhàn Nguyệt bỗng đứng dậy, chậm rãi đi về phía dòng nước ấy.

Nước rất cạn, cỏ xuân lại rậm, anh chiều mờ phủ lên mặt nước. Nàng đứng bên bờ, rồi bất chợt khom người, cởi giày. Đôi giày nàng mang là phượng đầu hài tinh xảo, mũi giày hẹp, dùng sa tanh mềm, thêu một cành hoa liên triền cực kỳ khéo léo.

Nàng trước nay thể nhược, đối với vạn sự vạn vật phần nhiều chỉ đứng nhìn, bởi nàng quá thông minh, chỉ cần nhìn cũng đã hiểu ra rất nhiều đạo lý.

Nhưng hôm nay, nàng bước xuống nước.

Dòng nước êm dịu, dưới chân trải lớp cát mịn, thì ra nước xuân có cảm giác như vậy, mềm mại như một khối ngọc ấm, dòng nước chảy khẽ chạm vào gan bàn chân nàng, tựa như một nụ hôn. Nàng vịn vào gốc đào bên bờ, bước vài bước trong làn nước, dòng nước hơi lạnh, ngập qua mắt cá. Cảm giác ấy giống như cơn gió đêm trong núi ở khu săn bắn, một thứ mát lạnh nhẹ nhàng, khiến người ta khó có thể quên.

“Tiểu thư, Vân phu nhân nấu trà đuổi hàn, sai nô tì mang tới cho người…” Đào Nhiễm vừa đến nơi, nhìn thấy cảnh ấy liền sửng sốt.

Nhưng Nhàn Nguyệt chỉ đưa tay ra cho nàng, để nàng kéo mình lên bờ.

“Tiểu thư, người…”

“Ta thử rồi, xác thật không thú vị.” Nhàn Nguyệt thản nhiên nói: “Nhưng ta đã thử qua.”

Mười sáu năm qua, đây là lần đầu tiên Đào Nhiễm nghe mà không hiểu tiểu thư nhà mình nói gì.

Còn Nhàn Nguyệt cũng không có ý định giải thích cùng nàng.

“Chúng ta về thay giày đi.” Nhàn Nguyệt nói xong, như nhớ ra điều gì, lại dặn thêm: “À phải rồi, ngươi đi gọi Hồng Yến tới. Ta muốn làm một cây trâm.”

« Chương trước
Chương tiếp »